Theo Fortune, Trung Quốc là nước có nhiều nhà đầu tư định cư lấy thẻ xanh bị mắc sai lầm trong những năm qua với nhiều lý do như phía quản lý vốn sử dụng tiền sai mục đích, không minh bạch trong tài chính, pháp lý dự án không đầy đủ, tiếp thị sai sự thật…

Những sai lầm khi đầu tư sang Mỹ lấy thẻ xanh

Đa phần các dự án đầu tư định cư Mỹ diện EB5 có cấu trúc tài chính theo phương thức cho vay mượn. Tất cả tiền của nhiều nhà đầu tư được quản lý bởi một công ty TNHH gọi là “general partner” (viết tắt là GP). Công ty GP này thường được một công ty quản lý vùng (regional center) hoặc một công ty khác có liên quan hoặc không liên quan đến nhà phát triển dự án quản lý. Nhà đầu tư sẽ gặp rủi ro nếu chỉ quan tâm thông tin quảng cáo dự án trong khi điểm quan trọng nhất – ai quản lý tiền lại không biết.

Theo Fortune, Trung Quốc là nước có nhiều nhà đầu tư định cư lấy thẻ xanh bị mắc sai lầm trong những năm qua với nhiều lý do như phía quản lý vốn sử dụng tiền sai mục đích, không minh bạch trong tài chính, pháp lý dự án không đầy đủ, tiếp thị sai sự thật…

Theo cấu trúc này thì tiền của nhà đầu tư không được chuyển thẳng vào dự án mà thông qua công ty GP. Nói cách khác, dự án chưa bao giờ có mối quan hệ trực tiếp với nhà đầu tư EB-5 và dự án cũng không biết nhà đầu tư là ai. Phía nhà phát triển dự án chỉ biết công ty TNHH quản lý vốn, tức là công ty cho dự án vay tiền.

Đa phần nhà đầu tư chỉ nhìn nhận dự án theo các yếu tố bề nổi như quy mô, tên tuổi thương hiệu, hứa hẹn bằng lời nói, nội dung tiếp thị hấp dẫn. Một số dự án dùng phương thức tâm lý như “chính phủ”, quan hệ trong chính quyền… để tạo thêm niềm tin cho nhà đầu tư.

Theo ông Trần Văn Tỉnh, nhà đầu tư sẽ gặp rủi ro nếu chỉ quan tâm thông tin quảng cáo dự án trong khi điểm quan trọng nhất – ai quản lý tiền lại không biết.

Cũng theo quy trình đầu tư trên thì nhà đầu tư rất sai lầm khi chỉ nhìn vào dự án để thẩm tra trong khi người quản lý tiền của mình thì không thẩm tra. Trách nhiệm pháp lý hoàn vốn cho nhà đầu tư là công ty quản lý vốn, không phải dự án. Dự án có trách nhiệm trả nợ cho công ty quản lý vốn. Do vậy, cần thẩm tra dự án là ai, tiểu sử, tài chính, độ tín nhiệm, kế hoạch trả nợ… nhưng quan trọng hơn là xác minh công ty quản lý vốn trực tiếp của nhà đầu tư.

Đối với nhà đầu tư EB5 thì lãi trong đầu tư không quan trọng bằng việc dự án tạo ra việc làm để xóa điều kiện thẻ xanh và hoàn vốn an toàn. Quy mô và tên tuổi của thương hiệu dự án cũng không liên quan trong đầu tư EB5 vì nhà đầu tư không bao giờ đầu tư trực tiếp vào dự án và cũng không được xem là cổ đông góp vốn.

Với một vài dự án nhỏ như mở nhà hàng, kinh doanh ẩm thực ăn uống nói chung, nhà đầu tư có thể có vốn trực tiếp như cổ đông song rủi ro cho thẻ xanh cực kỳ quan trọng. Với hình thức đầu tư này thì công việc được tạo ra hoàn toàn phụ thuộc vào việc làm trực tiếp trong nhà hàng. Nếu 6 tháng nhà hàng thua lỗ thì không thể duy trì việc làm để lấy thẻ xanh vĩnh viễn sau 2 năm. Thực tế tại Mỹ, F&B là một trong những ngành có cạnh tranh và rủi ro cao nhất.

Một sai lầm nghiêm trọng khác là vì dự án có quá nhiều thông tin pháp lý, thậm chí tài liệu có cả gần 1.000 trang, tuy nhiên nhà đầu tư không được đọc hoặc đọc qua loa các bản tóm tắt thay vì phải đọc và thẩm định. Có những điều khoản công bố rủi ro (risk disclosure) bắt buộc công bố theo luật thì bị các công ty tiếp thị dự án cắt bớt để nhà đầu tư “không cảm thấy lo sợ”.

Một số nhà đầu tư thì cần đi thăm dự án để yên tâm. Việc này lại càng sai lệch vấn đề khi đi xem miếng đất trống nằm đó hoặc chỉ thấy công việc xây dựng đang tiến triển thì “an tâm” hơn. Những việc bề nổi như thế này chỉ làm thỏa mãn các lo lắng không đúng chỗ của nhà đầu tư.

Nhiều nhà đầu tư cũng có xu hướng chọn dự án liên quan đến ngành nghề tương tự công việc mình đang làm ở Việt Nam để có thể kiểm soát nhiều hơn. Điều này cũng không phải là lựa chọn sáng suốt bởi nhà đầu tư không có vốn trực tiếp trong dự án và cũng không có quyền hạn gì. Ví dụ trong lĩnh vực quản lý quỹ đầu tư, nhà đầu tư gửi 5-10 triệu USD cho người quản lý vốn và chỉ cần tìm hiểu và tin người quản lý vốn chứ không cần biết nhiều người này sẽ dùng vốn của mình đầu tư vào cái gì, ở đâu. Niềm tin trong trường hợp này phải đặt đúng người quản lý vốn chứ không phải đặt vào dự án.

Ngoài ra, cũng không thể bỏ qua yếu tố tâm lý. Nhà đầu tư thường theo tiếng đồn của một xu hướng nào đó hoặc nghe ý kiến người quen ở Mỹ và đưa ra kết luận để chọn dự án đầu tư một cách rất cảm tính thay vì dùng lý trí, kinh nghiệm và dữ liệu để phân tích. Đôi khi quyết định đặt niềm tin chỉ bằng một cảm giác lại chính xác an toàn hơn sự phân tích bằng dữ liệu. Song về khía cạnh tài chính, pháp lý trong đầu tư thì không nên bỏ qua các yếu tố cơ bản.

Từ khoảng một thập niên trở lại đây, mặc dù lâm vào những bất ổn về kinh tế, chính trị, Hoa Kỳ vẫn là miền đất hứa của những người có tiềm lực tài chính trên khắp thế giới.

Theo nguyên lý cung – cầu, những dự án đầu tư để lấy thẻ xanh Mỹ, những Trung Tâm Vùng (Regional Center – TTV) cũng theo đó mọc lên hàng loạt.

Theo nguyên lý cung – cầu, những dự án đầu tư để lấy thẻ xanh Mỹ, những Trung Tâm Vùng (Regional Center – TTV) cũng theo đó mọc lên hàng loạt.

Làm sao đánh giá mức độ đầu tư

Cho đến thời điểm hiện tại, nổi tiếng và được nhắc đến nhiều nhất là dự án South Dakota, là một ví dụ điển hình về sự liên kết giữa các nhà chức trách của tiểu bang và TTV, lời hứa hẹn bảo đảm cho nguồn vốn của các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài và sự yếu kém trong công tác kiểm tra, giám sát cùng với “ cái chết đầy bí ẩn ” của một trong những thành viên dự án.

Đến nay, chính quyền hiện tại của Thống đốc Daugaard và Ủy viên Phát triển Kinh tế Pat Costello dường như đã trách mình đáng kể từ chương trình EB-5 lấy thẻ xanh ở South Dakota.

Từng là một trong những dự án được ưa chuộng nhất của các NĐT và các luật sư Di trú bởi sự hậu thuẫn của chính quyền tiểu bang, dự án South Dakota đã dễ dàng tăng thêm vốn đến 90% so với dự kiến. Chương trình bắt đầu dưới hình thức là một trang trại bò sữa với sự kết hợp vốn của một số nhà đầu tư châu Âu và châu Á. Trong một thời gian ngắn, để cạnh tranh với các dự án của một số TTV nổi tiếng khác, chương trình đã lan rộng ra với quy mô lớn và huy động nguồn tiền khổng lồ từ các NĐT chủ yếu đến từ Hàn Quốc và Trung Quốc.

Vào ngày 23 và 24 tháng 8 năm 2012, ông Bollen – Chủ tịch của dự án South Dakota nhận được văn bản chính thức của các luật sư , yêu cầu cung cấp “ Các bước tiến hành để tạo ra số lượng công việc tối thiểu theo quy định của Sở Di Trú Hoa Kỳ – USCIS”

Ngay sau đó, vào ngày 29 tháng 8 năm 2012, tại Văn phòng phát triển kinh tế của Thống đốc đã ban hành  một “Hiệp định kiểm soát tài khoản” nhằm hạn chế quyền truy cập vào các tài khoản dự án của ông Bollen. Việc Nhà nước can thiệp sâu sắc vào hoạt động của một nhà thầu tư nhân như thế được xem là “một hành động phi thường”

Một tháng sau khi Nhà nước đã ban hành thư, Sec. Benda chết vì vết thương do đạn bắn tại nhà của chị gái mình gần hồ Andes và cái chết của ông vẫn còn được xem xét bởi Tổng chưởng lý Jackley người đã hứa sẽ tiết lộ thông tin về khám nghiệm tử thi vào cuối tháng này.  Đến nay, chính quyền hiện tại của Thống đốc Daugaard và Ủy viên Phát triển Kinh tế Pat Costello dường như đã trách mình đáng kể từ chương trình EB-5 lấy thẻ xanh ở South Dakota.

Sự thăng trầm của dự án South Dakota phần nào phản ảnh về những rủi ro mà các NĐT EB-5 phải gánh chịu khi lựa chọn một dự án để đầu tư và số tiền vốn của mình được sử dụng bởi một bên thứ ba và quyền sở hữu vốn không được đảm bảo.

“Đầu năm nay, tôi đã nhận thức được các hành vi sai trái bị cáo buộc trước chính quyền của tôi, tại văn phòng phát triển kinh tế,” Daugaard cho biết trong một tuyên bố. “Tôi yêu cầu Tổng chưởng lý nhà nước điều tra và cung cấp tất cả các tài liệu có liên quan. Cũng sẽ có một cuộc điều tra liên bang cho việc này.”

Sự thăng trầm của dự án South Dakota phần nào phản ảnh về những rủi ro mà các NĐT EB-5 phải gánh chịu khi lựa chọn một dự án để đầu tư và số tiền vốn của mình được sử dụng bởi một bên thứ ba và quyền sở hữu vốn không được đảm bảo. Từ đó dẫn đến nhu cầu tự kiểm soát nguồn vốn và quyền sở hữu toàn bộ dự án đầu tư lấy thẻ xanh được đặt ra ở mức độ ưu tiên.

LEAVE A REPLY